CÁC YẾU TỐ PHÁP LÝ CỦA MỘT THƯƠNG HIỆU (chương 2 – phần 9)

Bối cảnh quốc tế

Đăng ký và bảo hộ một nhãn hiệu hàng hoá, dưới hình thức nào đó, đã tồn tại ở hầu hết các nước có nền thương mại hiện đạI. Định nghĩa về một nhãn hiệu thương mai có thể khác nhau giữa các nước song các nguyên tắc nhìn chung là bất biến. Mọi nhãn hiệu hàng hoá đăng ký đều có các đường biên giới lãnh thổ và một nhãn hiệu hàng hoá cung cấp sự bảo hộ trong phạm vi nước mà nó đăng ký. Ở hầu hết các nước, tên thương mại chưa đăng ký cũng được bảo hộ còn mức độ bảo hộ giữa các nước lại rất khác nhau.

Một nhãn hiệu hàng hoá đăng ký là một độc quyền loại trừ tất cả những người khác khỏi sự sử dụng trừ chủ sở hữu đã đăng ký. Điều chưa được rõ ràng là liệu đăng ký một nhãn hiệu hàng hoá là cấp quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hoá đăng ký đó hay chỉ là quyền loại trừ người khác khỏi sự sử dụng.

 

Đánh cắp nhãn hiệu hàng hoá từ các nước khác- những đơn đăng ký các nhãn hiệu hàng hoá và nhãn hiệu nổi tiếng với ý đồ lừa gạt

Luật Nhãn hiệu hàng hoá 1994 đã công nhận rằng những nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng tới một mức độ nào đó sẽ được quyền bảo hộ mà không cần phải có hoạt động thương mại hay đăng ký ở Anh. Có thể lấy ví dụ về những nhãn hiệu nổi tiếng bất kể chúng có được đăng ký ở Anh hay không như Coca-cola hoặc Mc Donald’s mà cả hai rõ ràng đã được đăng ký. Phần 56 quy định bảo hộ “cho dù người đó có tiến hành kinh doanh hay có chút uy tín nào ở Vương quốc Anh hay không”.

Ngoài quy định bảo hộ cho các nhãn hiệu nổi tiếng, phần 3(6) của Đạo luật 1994 còn ngăn chặn việc đăng ký nhãn hiệu “nếu đơn xin đăng ký được thực hiện với ý đồ lừa gạt”. Mặc dù chúng ta chịu sự chi phối đáng kể của mục này, chỉ thị 1989 quy định rõ rằng xin đăng ký một nhãn hiệu để ngăn chặn việc chủ sở hữu thực sự không được đăng ký sẽ là ý đồ lừa gạt”.

Ở một số nước, người đầu tiên nộp đơn thực sự có quyền bất khả xâm phạm và do chi phí và sự bất định trong việc chứng minh ý đồ lừa gạt nên đơn đăng ký thà được nộp sớm còn hơn muộn.

 

TRIPS

Hiệp định TRIPS (Các quyền sở hữu trí tuệ có liên quan tới thương mại) được ký kết ở vòng đàm phán Urugoay của “Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịch” (GATT) dưới sự giám sát của Tổ chức thương mại thế giới WTO. Hiệp định này yêu cầu tất cả các bên ký kết phải cung cấp được một mức độ bảo hộ tối thiểu cho các quyền sở hữu trí tuệ ở mỗi nước tham gia. Hiệp định TRIPS đòi hỏi mỗi quốc gia ký kết phải cung cấp một hệ thống đăng ký cho “bất kỳ dấu hiệu hoặc tổng hợp các dấu hiệu, có thể phân biệt được hàng hoá hay dịch vụ của hãng này với hãng khác”. Hiệp định này yêu cầu sự bảo hộ phải mở rộng cho cả dịch vụ.

Hình thức bảo hộ được quy định bằng khả năng phân biệt đã có trong luật pháp Anh từ năm 1994. Bản thân luật Anh cũng đã được khẳng định bằng chỉ thị 1989 trong đó trình bày cơ sở phối hợp luật của tất cả 15 nước thành viên châu Âu.

 

Hệ thống Nghị định thư Madrid và hệ thống Nhãn hiệu hàng hoá cộng đồng

Có sự khác biệt lớn về cách tiếp cận trong hai hệ thống này. Nghị định thư Madrid (đã được mở rộng sang Anh theo Luật Nhãn hiệu hàng hoá 1994 và có hiệu lực từ 1/4/1996) cho phép nộp yêu cầu đăng ký ở Geneva, trên cơ sở đăng ký ở bất kỳ nước nào tham gia vào nghị định thư này. Nghị định thư này đã không được các chủ sở hữu Thương hiệu Anh ủng hộ và người ta cho rằng sở dĩ như vậy là do việc đăng ký chỉ dựa vào một lá đơn cơ sở. Nếu lá đơn cơ sở này bị huỷ bỏ hoặc mất hiệu lực thì việc đăng ký dựa trên lá đơn này theo Nghị định thư sẽ không còn được công nhận.

Hệ thống Nhãn hiệu hàng hoá cộng đồng (CTM) chịu sự điều khiển của Phòng Điều phối Kiểu dáng và Nhãn hiệu hàng hoá trên Thị trường nội địa (OHIM) ở Alicante. Chỉ một đơn đệ trình cũng sẽ cung cấp sự bảo hộ ở cả 15 nước. Tuy vậy để được trao một CTM, nhãn hiệu phải tồn tại ở cả 15 nước này. Nếu đơn trên bị bác bỏ hay phản đối thành công ở bất kỳ một nước nào thì đơn đăng ký CTM sẽ thất bại. Trong trường hợp ấy, người nộp đơn có thể chuyển đơn xin đăng ký CTM ấy thành 14 đơn riêng biệt. Mỗi đơn khi đó sẽ phải chịu một khoản lệ phí nộp đơn quốc gia ở mỗi nước xin đăng ký.

 

Các tiêu chuẩn để được đăng ký

Tất cả các đơn đều được xét nghiệm theo một số tiêu chuẩn. Hai phạm vi chủ yếu là rào cản tuyệt đối và rào cản tương đối đối với việc đăng ký. Rào cản tương đối chủ yếu đề cập tới sự tồn tại của các quyền trước đây. Những quyền này có thể là những nhãn hiệu giống hệt trước đây liên quan tới những hàng hoá hay dịch vụ tương tự hoặc các nhãn hiệu tương tự liên quan tới các sản phẩm và dịch vụ giống hệt. Không phải tất cả các nước đều kiểm tra sổ đăng ký của họ trước khi cấp đăng ký nhãn hiệu hàng hoá. Pháp, Ý, Đức không tiến hành so sánh với các quyền trước kia trước khi cho phép đăng ký, nên sau đó đăng ký có thể được cấp rồi lại bị huỷ bỏ.

Phạm vi bảo hộ được cấp đang được thu hẹp ở các nước và từ nhiều quyết định gần đây của cả Phòng Đăng Ký Nhãn hiệu hàng hoá lẫn các toà án có thể thấy rõ rằng Anh nhất định sẽ hạn chế phạm vi độc quyền của nhãn hiệu hàng hoá. Luật Nhãn hiệu hàng hoá 1994 tiếp tục nội dung của Chỉ thị 1989 nhưng cách diễn đạt chặt chẽ phần 10 của Anh lại khác với cách diễn đạt và cách hiểu được áp dụng ở các nước Benelux. Phần này quy định rằng khi việc sử dụng một dấu hiệu trong những trường hợp nhất định đã quy định gây ra khả năng nhầm lẫn thì sự vi phạm sẽ được xác minh và tuyên bố. Mức độ nhầm lẫn được mô tả ở phần này bao gồm cả khả năng liên tưởng. Người ta cho rằng phần này mở rộng phạm vi của nhãn hiệu hàng hoá để ngăn chặn sự suy giảm khả năng phân biệt. Mô hình luật của các nước Benelux loại bỏ việc sử dụng một nhãn hiệu trong bất kỳ  loại hàng hoá nào khi nhãn hiệu đó bị kiện là gây ra sự liên tưởng hoặc buôn bán trên sự tín nhiệm của khách hàng mà chủ sở hữu nhãn hiệu được đăng ký đã tạo ra. Ở Mỹ, luật chống suy giảm khả năng phân biệt đã được xây dựng với ý định có hiệu quả tương tự còn ở Đức, các luật cạnh tranh không lành mạnh quy định một khuôn khổ chặt chẽ để ngăn chặn sự suy giảm khả năng phân biệt này.

Quan điểm của Anh đã bị các quan toà cực kỳ hạn chế. Sự liên tưởng được cho là một bộ phần của sự nhầm lẫn và nếu không nhầm lẫn thì đã chẳng có vi phạm. Toà án Châu Âu ( ECJ) đã phán quyết rằng về mặt pháp lý chủ sở hữu một nhãn hiệu thưong mại đã đăng ký không thể phản đối một người nộp đơn khác xin sử dụng hay đăng ký một nhãn hiệu tương tự cho một loại hàng hoá hay dịch vụ khác.

Luật nhãn hiệu hàng hoá Anh bảo hộ cho màu sắc, âm thanh và hình dáng. Không phải tất cả các hệ thống luật đều quy định phạm vi bảo hộ rộng như vậy.

So sánh phạm vi của các thành phần khác của một Thương hiệu thể hiện nhiều cách hiểu không kém. Phần lớn các hiệp ước Quốc tế quy định những mức bảo hộ tối thiểu và không nêu rõ hình thức mà sự bảo hộ đó phải có. Kiểu dáng sản phẩm sẽ thường là một phần không thể tách rời của Thương hiệu. Các thiết kế thời trang được bảo hộ ở Anh như xét tới hình ảnh ba chiều thông qua sơ đồ của thiết kế chưa đăng ký. Không có sự bảo hộ có thể so sánh với Mỹ- ở đây, hiến pháp giữ vững những nguyên tắc về bảo hộ giới hạn tự do ngôn luận ở lĩnh vực này đối với mẫu hình hai chiều trang trí bên ngoài hay trang trí theo những nguyên tắc của bản quyền.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *