CÁC YẾU TỐ PHÁP LÝ CỦA MỘT THƯƠNG HIỆU (chương 2 – phần 8)

Luật bản quyền, kiểu dáng và sáng chế 1988

Quyền kiểu dáng đã được đưa vào Luật bản quyền, kiểu dáng và sáng chế 1988 để bảo hộ kiểu dáng không đăng ký. Quyền này tìm cách bảo hộ cho người thiết kế sản phẩm nhưng cũng giới hạn thời gian bảo hộ sẵn có. Về mặt lý thuyết, nó cho phép mở rộng kiểu dáng công nghiệp sau một thời hạn sử dụng tương đối ngắn. Kiểu dáng không đăng ký có thời hạn bảo hộ tối đa là 15 năm nhưng nếu được khai thác thì chỉ được bảo hộ trong đúng 5 năm. Sau 5 năm này, việc sao chép lại kiểu dáng đó không phải là sự vi phạm miễn là các khoản tiền bản quyền thích hợp được chi trả. Sau 10 năm khai thác, quyền kiểu dáng không đăng ký sẽ hết hạn. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi các chủ sở hữu Thương hiệu sẽ tìm cách đăng ký những đặc tính nổi bật của sản phẩm của họ làm nhãn hiệu hàng hoá trong giới hạn Luật 1994 cho phép. Điều này tạo ra sự xung đột giữa việc sử dụng các nhãn hiệu hàng hoá trước đây với tư cách là dấu hiệu chứng nhận xuất xứ và những điều luật bảo hộ kiểu dáng. Kết quả là, các nhãn hiệu hàng hoá 3 chiều có thể bị cắt giảm và những đơn xin đăng ký chúng có thể bị hạn chế ở sự phân nhóm rất nhỏ.

Kiểu dáng đăng ký do Luật Kiểu dáng đăng ký (the Registered Design Act (RDA) 1949) quy định thời gian bảo hộ là 25 năm, nhưng đã chỉ giới hạn ở phạm vi bảo hộ mà nó cung cấp.

Nếu bao bì và kiểu dáng sản phẩm là một phần thiết yếu của Thương hiệu thì thời gian bảo hộ ngắn do kiểu dáng không đăng ký cung cấp là chưa đủ. Trước năm 1989 khi Luật Bản quyền KIểu dáng và Sáng chế chưa hiệu lực, bao gói 3 chiều được bảo hộ theo những luật bản quyền này. Do luật này công nhận rằng sự thể hiện ba chiều của một kiểu dáng hai chiều (tác phẩm có bản quyền) có thể vi phạm bản quyền đối với các sản phẩm mang kiểu dáng hai chiều, luật này tiến hành bảo hộ đối với sự thể hiện ba chiều trong suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau đó (vào thời điểm ấy).

Thời gian bảo hộ dài mà bản quyền cấp cho kiểu dáng không đăng ký không còn được gắn với các sản phẩm 3 chiều tái sản xuất công nghiệp (một vật được tái sinh hơn 25 lần). Những sản phẩm này hiện nay phải dựa vào các quyền kiểu dáng được Đạo luật 1988 quy định. Những sự thể hiện ấy có thể được đăng ký làm nhãn hiệu hàng hoá. Tính khu biệt cần thiết không được quy định rõ, nhưng nhiều nhãn hiệu loại này sẽ không thể được đăng ký nếu không có bằng chứng thu được thông qua sử dụng. Tuy nhiên việc đăng ký những nhãn hiệu này phải không được có hiệu ứng cấp bảo hộ đối với những đặc điểm tính năng của sản phẩm đó (những đặc điểm tính năng này không được bảo hộ).

Đăng ký một mẫu hình (shape) làm  nhãn hiệu hàng hoá hay kiểu dáng có sự trái ngược hoàn toàn. Để được đăng ký kiểu dáng, kiểu dáng đó phải là bản gốc theo nghĩa là không có kiểu dáng nào tương tự như thế đã được đưa ra thị trường trước đó cũng như người xin đăng ký chưa đưa hàng hoá mang kiểu dáng đó ra thị trường. Ngược lại, danh tiếng và việc sử dụng trong thương mại của kiểu dáng đó sẽ được chấp nhận, ở một mức độ đáng kể, là bằng chứng hỗ trợ để một mẫu hình 3 chiều được đăng ký là nhãn hiệu hàng hoá.

Thực vậy, hiệu lực của việc bảo hộ một mẫu hình 3 chiều làm nhãn hiệu hàng hoá đã vượt qua ranh giới công nhận giữa Thương hiệu và kiểu dáng. Nhiều kiểu dáng chắc chắn sẽ được gia hạn vĩnh viễn như nhãn hiệu hàng hoá trong khi bản quyền và quyền kiểu dáng đăng ký có thể phải mất một thời gian dài kể từ khi hết hiệu lực. Tuy nhiên, do các quyền theo thông luật (các nhãn hiệu hàng hoá không đăng ký) có thể ngăn cản người khác sử dụng các kiểu dáng ngay cả khi thời hạn hiệu lực đã hết, có lẽ kết quả này không thể được chấp nhận.

Một đơn đăng ký mới được quảng cáo đã nêu lên những khó khăn về mặt khái niệm xuất phát từ sự xung đột giữa luật kiểu dáng 3 chiều và nhãn hiệu hàng hoá. Caterham Car Sales và Coach Work Ltd nộp đơn xin đăng ký một mẫu hình 3 chiều (xem minh hoạ dưới đây) trên đó có in hình số 7. Trên thực tế, đây là một đơn xin bảo hộ kiểu dáng 3 chiều của một ôtô làm nhãn hiệu hàng hoá.

hinh-mau-nhan-hieu

Remington

Trong vụ kiện giữa Philips và Remington, Jacobs J đã phải đấu tranh với sự xung đột này.

Vị quan toà này chấp nhận rằng bản vẽ hai chiều của đầu xoay dao cạo râu này (xem hình minh hoạ dưới đây) bao gồm cả sự thể hiện 3 chiều. Ông cũng chấp nhận rằng cho dù đăng ký được tiến hành trước khi Đạo luật 1994 được thông qua trong đó bao gồm cả những nhãn hiệu hàng hoá 3 chiều, thì đăng ký trước đây tự bản thân nó có hiệu lực như một nhãn hiệu 3 chiều.

philips

Nhãn hiệu Philips bị tuyên bố là không có hiệu lực dựa trên nhiều cơ sở nhưng cơ sở chủ yếu có thể là Jacobs J đã viện dẫn nguyên tắc mà nhãn hiệu hàng hoá có, theo chức năng hay điểm quan trọng chủ yếu, là sự bảo đảm về nguồn gốc. Ông tuyên bố “Tôi cho rằng vấn đề là ở đây, Philips có thể chẳng khi nào xa rời thực tế là dấu hiệu này về cơ bản mô tả chức năng. Sử dụng nhiều hơn chẳng thể tạo ra sự khác biệt nào. Dấu hiệu này không khi nào chỉ có thể mô tả dao cạo râu do Philips hay bất kỳ hãng nào khác sản xuất vì về cơ bản mà nói, đây là dao cạo râu 3 đầu xoắn. Nó không chỉ có khả năng mô tả cho riêng hàng của Philíps.

Jacobs J đã cân nhắc lại lời biện hộ mà Lord Hoffman đưa ra trong vụ kiện thuốc đánh rẵng có sọc vằn “Theo quan điểm của tôi, có một trở lực tương tự trong cách một hãng kinh doanh chọn một đặc điểm khá đơn giản không phải để làm dấu hiệu xuất xứ mà trên cơ sở nó có thể có sức lôi cuốn mọi người.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *