CÁC YẾU TỐ PHÁP LÝ CỦA MỘT THƯƠNG HIỆU (chương 2 – phần 5)

Nhãn hiệu hàng hoá không lưu hành khi chưa đăng ký

Những vụ tranh chấp gây xôn xao dư luận vào Mùa xuân 1998 về tên “miền” đã nêu lên tầm quan trọng bậc nhất về thời gian bảo hộ. Người quản lý Thương hiệu ấy có rất nhiều sản phẩm, bao bì, kiểu dáng và các hoạt động khuyến mãi khó có thể thực hiện để xác định sản phẩm nào thắng trong cuộc chạy đua thời gian và vì thế, chứng minh cho các chương trình đăng ký với phạm vi rộng. Không tiến hành đăng ký ở một nước có quy định chặt chễ như Đức sẽ bị phạt nặng, bởi vì có thể có rủi ro là bạn sẽ không được bảo hộ nếu đã có người đăng ký trước bạn.

Nhầm lẫn hay liên tưởng

Do một Thương hiệu dựa vào nhận thức và những liên tưởng với nó, việc lựa chọn và đăng ký một nhãn hiệu hàng hoá hoặc nhiều nhãn hiệu có ý nghĩa quan trọng. Hơn nữa, khi Thương hiệu là một loại sản phẩm đặc biệt thì bao bì thương mại của sản phẩm đó có thể dựa chủ yếu vào sự liên tưởng tới một số đặc điểm, hình hoạ, màu sắc hay kiểu dáng.

Tuy nhiên, đIều đáng nói là sản phẩm đó có thể bị nhái lại mà không thực sự vi phạm bất cứ thành phần nào. Những cuộc chiến của Cola là những minh chứng rõ ràng về khó khăn với bao bì thương mại: Coca-cola đã xây dựng hình xoắn (swirl) và hộp đỏ là đặc trưng sản phẩm của công ty. Virgin Cola đã sử dụng một bao bì thương mại tương tự, song lại lấy tên sản phẩm của họ là Virgin Cola.

 

NHÁI LẠI VÀ LÀM GIẢM KHẢ NĂNG PHÂN BIỆT CỦA KHÁCH HÀNG

Để vi phạm một nhãn hiệu hàng hoá hay để thưa kiện về hành vi mạo nhận đối với bất kỳ hành vi nào mà không phải là sử dụng một nhãn hiệu hay hàng hoá giống y hệt, khả năng gây nhầm lẫn phải được xây dựng. Chỉ có sự liên tưởng không thôI là chưa đủ. Các toà án ở Châu Âu và Anh đã quy định rằng trong khuôn khổ Luật Nhãn hiệu hàng hoá 1994, sự liên tưởng có thể là một loại nhầm lẫn. Vì thế, dòng chính phẩm có thể bị vi phạm vê mặt pháp lý bởi chủ sở hữu Thương hiệu đó muốn cạnh tranh với sản phẩm đứng đầu thị trường bằng cách mượn hình ảnh thể hiện từ sản phẩm này. Dòng chính phẩm bị xâm phạm khi người mua bị nhầm lẫn nguồn gốc giữa chúng. Vấn đề này thường bị thổi phồng bằng những lời phàn nàn rằng các siêu thị bố trí hàng hoá mang Thương hiệu của họ càng gần với sản phẩm mang nhãn hiệu hàng đầu thị trường càng tốt bằng cách mượn các đặc điểm về hình dáng, màu sắc, bao bì mà không trực tiếp đánh cắp những đặc đIểm này.

ĐỊNH VỊ TRÍ THƯƠNG HIỆU

Người ta muốn bắt chước một Thương hiệu nào đó vì mong muốn mượn từ sản phẩm ban đầu ấy sự liên tưởng hay đặc tính vốn đã mang một ý nghĩa nào đó trong tâm trí người tiêu dùng. ĐIều này được thực hiện mà không gây ra sự nhầm lẫn về nguồn gốc sản phẩm hay vi phạm nhãn hiệu hàng hoá đó.

Luật án lệ gần đây (xem mục các trường hợp tham khảo) đã cho thấy giá trị của việc bố trí một sản phẩm gần giống với sản phẩm của nhà sản xuất đứng đầu thị trường mà không vi phạm bất kỳ một quyền nào. Ngược lại, nhà sản xuất hàng đầu này phải đảm bảo rằng tất cả những quyền mà anh ta có đã được sử dụng một cách trọn vẹn và sáng tạo nhất để có thể ngăn ngừa sản phẩm bị bắt chước. Vấn đề trên được đặt ra cho chủ sở hữu Thương hiệu vì tất cả những quyền bảo hộ này được các quan toà áp dụng riêng rẽ và nguyên đơn phải chứng minh được rằng ít nhất một trong những quyền cụ thể đã bị xâm phạm.

Các hệ thống luật khác thừa nhận “thương mại ăn theo” nằm trong luật cạnh tranh không lành mạnh.

 

Hệ thống luật cạnh tranh không lành mạnh

Ở Đức, Đạo luật chống cạnh tranh không lành mạnh, thuộc Bộ luật dân sự Đức, đoạn 823 quy định những giới hạn đối với bất cứ hành vi nào đI ngược lạI sự trung thực theo thông lệ. Giới hạn này công nhận những vấn đề như việc thiết lập  quyền sử dụng một màu sắc của chủ sở hữu Thương hiệu có liên quan tới sản phẩm đặc biệt là màu sắc thường không được liên hệ với hoạt động sử dụng cụ thể đó.

Ở Pháp, cạnh tranh không lành mạnh hay “thương mại ăn theo” là những hành động phạm pháp được quy định trong Luật dân sự Pháp (điều 1382).

 

Chống khuynh hướng làm giảm khả năng phân biệt (anti-dilution) ở Mỹ

Ở Mỹ, vấn đề này vẫn chưa được giải quyết triệt để. Ngày 16/1/1996, Mỹ đã xây dựng luật bảo hộ chống khuynh hướng làm giảm khả năng phân biệt trên toàn liên bang cho những nhãn hiệu nổi tiếng bằng cách thêm một phần mới (43c) vào Luật Lanham – đạo luật Nhãn hiệu hàng hoá của Mỹ. Theo phần mới này, chủ sở hữu một nhãn hiệu danh tiếng có thể được bảo hộ chống lại việc sử dụng trong thương mại một nhãn hiệu hay một tên thương mại tương tự, nếu việc sử dụng ấy bắt đầu sau khi nhãn hiệu của chủ sở hữu đã trở nên nổi tiếng và gây ra sự suy giảm đặc tính dễ phân biệt của nhãn hiệu của chủ sở hữu đó. Nếu chủ sở hữu có thể chứng minh rằng bị đơn cố tình buôn bán trên danh tiếng của họ hoặc cố tình gây ra sự suy giảm của nhãn hiệu nổi tiếng đó thì toà án có thể buộc bên vi phạm bồi thường bằng tiền bạc hay tiêu huỷ những nguyên liệu vi phạm.

Phần mới này liệt kê 8 nhân tố “không loạI trừ” mà toà án có thể xem xét khi quyết định liệu một nhãn hiệu có nổi tiếng không là:

  • Tính khu biệt
  • Thời gian và phạm vi sử dụng nhãn hiệu cho hàng hoá hay dịch vụ đó.
  • Thời gian và phạm vi quảng cáo cùng với chất liệu sử dụng nhãn hiệu đó.
  • Phạm vi địa lý của khu vực buôn bán trong đó nhãn hiệu này được sử dụng
  • Các kênh buôn bán hàng hoá hay dịch vụ đó
  • Mức độ thừa nhận nhãn hiệu này trong khu vực thương mại của chủ sở hữu và bị đơn cùng với các kênh được chủ sở hữu và bị đơn sử dụng.
  • Bản chất và phạm vi sử dụng nhãn hiệu đó hay các nhãn hiệu tương tự bởi các bên thứ ba.
  • Nhãn hiệu của chủ sở hữu có được đăng ký ở Mỹ hay không?

 

Suy giảm khả năng phân biệt được định nghĩa là việc làm giảm khả năng của một nhãn hiệu nổi tiếng trong việc phân biệt hàng hoá hay dịch vụ. Không giống như những vụ xâm phạm nhãn hiệu hàng hoá trước đây, bị đơn không cần phải cạnh tranh với chủ sở hữu nhãn hiệu và chủ sở hữu nhãn hiệu ấy không phải chứng minh rằng việc bị cáo sử dụng nhãn hiệu đó có thể khiến người tiêu dùng nhầm lẫn.

Kể từ năm 1947, khi luật quốc gia lần đầu tiên được thông qua ở Massachusettes tới nay, luật này đã công nhận hai kiểu làm giảm khả năng phân biệt cơ bản là:

  • Làm giảm khả năng phân biệt bằng cách bôI nhọ danh tiếng (dilution by tarnishment)- là những sử dụng có thể làm nhãn hiệu đó bị mang tiếng xấu (ngoàI việc đưa ra những bản tin bất lợi…).
  • Làm giảm khả năng phân biệt bằng cách tạo ra sự mập mờ (dilution by blurring)- là những sử dụng, mặc dù không nhất thiết phải gây ra sự nhầm lẫn, có thể khiến nhãn hiệu nổi tiếng đó mất đI một số khả năng được coi là dấu hiệu duy nhất để nhận biết hàng hoá của chủ sở hữu trên thị trường.

Cho tới nay, các phán quyết quan trọng ít khi được đưa ra khi hành vi làm giảm khả năng phân biệt một nhãn hiệu theo cách nhận biết truyền thống của người tiêu dùng đã được xác minh. Một toà án liên bang ở New York đã xác minh và tuyên bố rằng Tập đoàn Dep Corporation, nhà kinh doanh các sản phẩm dưỡng da dưới tên Basique, đã vi phạm phần 43(c) bằng cách làm giảm khả năng phân biệt nhãn hiệu Clinique được hãng Clinique Laboratories sử dụng cho các sản phẩm dưỡng da và những sản phẩm khác của họ. Quan toà xác định rằng đây là hành vi làm giảm khả năng phân biệt bằng cách tạo ra sự mập mờ và cấm bị đơn không được tiếp tục sử dụng nhãn hiệu Basquie. Vị quan toà này cũng nhận thấy khả năng người tiêu dùng có thể bị nhầm lẫn và cấm Dep không được xâm phạm nhãn hiệu hàng hoá và bao bì thương mạI của Clinique.

Cho đến nay, các vụ kiện đáng chú ý nhất là những vụ xử giữa một bên là chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá và một bên là cyber squatters. Cyber squatters là những người đặt tên miền trên Internet giống hệt với các tên nổi tiếng đã được sử dụng trong thương mạI mà thường được những thực thể khác đăng ký làm nhãn hiệu hàng hoá và kinh doanh dưới những nhãn hiệu này.

Đối với một trong hai vụ kiện về tên miền nổi tiếng nhất, quan toà đã phán quyết rằng bị đơn đó (bị đơn của cả hai vụ kiện) đã vị phạm Đạo luật này và cấm họ không được tiếp tục sử dụng. Những nạn nhân trong vụ kiện cyber-squatting trước gặp khó khăn vì khi ấy theo luật, nguyên đơn phải chứng minh được những hành vi của bị cáo gây ra khả năng nhầm lẫn trên những thị trường danh tiếng và có liên quan tới chủ sở hữu nhãn hiệu đó. Việc đưa thêm kháI niệm làm giảm khả năng phân biệt vào các sách luật khiến vị quan toà này có được một công cụ đắc lực để bảo hộ cho các chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá. Nhưng ngay cả khi ấy sự nhầm lẫn thông thường cũng khó có thể được chứng minh.

Những quyết định trên cũng động chạm tới việc xác định Những nhãn hiệu nổi tiếng. Hai nhãn hiệu đang cần được xác định là Panavision và Intermatic và trong số này không nhãn hiệu nào có thể được gọi là “nhãn hiệu gia đình” giống như Coca-cola hay Mc Donald’s, song các quan toà đã nhận thấy cả hai nhãn hiệu này đều nổi tiếng. Intermatic được cho là nổi tiếng chỉ do nhãn hiệu này được sử dụng trong 50 năm. Panavision được cho là nổi tiếng hoàn toàn nhờ thời gian sử dụng hơn 40 năm và nhờ hoạt động quảng cáo rộng rãI về thiết bị đIện ảnh  chất lượng chuyên nghiệp sử dụng nhãn hiệu ấy trong suốt thời gian này. Hoạt động quảng cáo hướng vào những người có chuyên môn về lĩnh vực truyền hình và phim ảnh và ở một mức độ nào đó đã hướng tới toàn bộ dân chúng.

Luật này yêu cầu phải có bằng chứng về sự suy giảm khả năng phân biệt thực sự. Cho dù bị đơn trên thực tế không sử dụng những tên miền này, các quan toà cũng sẵn sàng xác minh và quyết định rằng việc ngăn chủ sở hữu hợp pháp của những nhãn hiệu ấy không được sử dụng chúng sẽ làm giảm khả năng chủ sở hữu nhãn hiệu đó xác định và nhận ra hàng hoá của anh ta trên mạng Internet.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *