CÁC YẾU TỐ PHÁP LÝ CỦA MỘT THƯƠNG HIỆU (chương 2 – phần 10)

BẢO HỘ BẢN QUYỀN TÁC GIẢ

Trong các vấn đề bản quyền, các nguyên tắc thi hành tương hỗ đựơc trình bày trong Hiệp ước Berne. Hiệp ước này quy định mỗi bên phải cam kết bảo hộ tương hỗ cho các bên ký kết có tính tới những nguyên tắc và luật hiện hành ở nước xảy ra vi phạm. Không có điều khoản tương tự nào ở Anh liên quan tới quyền kiểu dáng và vì thế có thể dẫn tới một số tình huống kỳ quặc. Chẳng hạn, nếu một sản phẩm công nghiệp tái sinh 3 chiều không phải lần đầu tiền được đưa ra thị trường ở một nước đủ tư cách (trên nguyên tắc là một nước Châu Âu), nó không được hưởng bất kỳ sự bảo hộ về quyền kiểu dáng nào ở Anh.

Bộ Thương mại và Công nghiệp cho rằng trên thực tế, Anh đã thực hiện đúng nghĩa vụ của họ theo Hiệp định TRIPS về mức độ bảo hộ tối thiểu đối với các quyền sở hữu trí tuệ. Bộ Trưởng Bộ Ngoại giao phụ trách thương mại và công nghiệp cho rằng nghĩa vụ duy nhất là phải bảo hộ cho kiểu dáng đăng ký- được RDA 1949 quy định- chứ không có nghĩa vụ phải thực hiện bảo hộ kiểu dáng không đăng ký giữa các nước do quyền đó chỉ tồn tại ở Anh và không được công nhận ở nước ngoài.

Có một mức độ nhất quán trong Liên minh Châu Âu vì mọi quy định quốc gia đều được thể hiện theo Hiệp định Rome với luật án lệ xuất phát từ Toà án Châu Âu. Các hợp đồng độc quyền, hay bất cứ thoả thuận nào ảnh hưởng tới thương mại giữa các nước phải tuân theo luật Châu Âu. Chẳng hạn, các điều khoản hạn chế sự không thừa nhận của người được cấp lixăng đối với các quyền của người cấp lixăng là không có hiệu lực. Những điều khoản này mang lại cho người cấp lixăng một quyền mà anh ta không được phép có. Thoạt nhìn, những hợp đồng độc quyền cũng có tính chất chống cạnh tranh và yêu cầu phải có sự khai báo hoặc phê chuẩn từ Uỷ ban Châu Âu hoặc cả hai. Những thoả thuận tìm cách cản trở người được cấp lixăng bán lại các sản phẩm trên những lãnh thổ khác trong EU cũng không có hiệu lực: 1 nhà cung ứng không thể thưa kiện về hoạt động bán lại sản phẩm của họ một khi sản phẩm đã được đưa ra thị trường ở bất kỳ nước châu Âu nào. Do đó, các vấn đề marketing tương tự phải được cân nhắc trong phạm vi các thị trường Châu Âu và ngoài Châu Âu đồng thời các thoả thuận phải phản ánh được sự khác biệt này.

Ở Anh không có một bộ luật nào chi phối cạnh tranh không lành mạnh vì thế những cuộc chiến giữa những sản phẩm chính hiệu và những sản phẩm nhái lại “look-alike” tự do diễn ra trên đường phố. Ngược lại, Đức lại có một đạo luật chống cạnh tranh không lành mạnh rất chặt chẽ để cấm look-alike trading (hoạt động buôn bán các sản phẩm nhái này).

Sự điều chỉnh trong phạm vi một nước và mối quan hệ qua lại giữa các nước khác nhau ảnh hưởng tới giá trị và tính kinh tế của một Thương hiệu. Thật nguy hiểm cho một chủ sở hữu Thương hiệu khi nghĩ rằng Thương hiệu sẽ dễ dàng được giải thích giữa các nước. Và cũng chẳng thận trọng gì khi cho rằng sự bảo hộ ở một nước nhất định sẽ dẫn tới sự bảo hộ ở một nước khác. Như đã được trình bày, Thương hiệu dựa vào tập hợp các quyền hợp pháp đồng thời giá trị và sức mạnh của chúng sẽ giữa các nước sẽ khác nhau. Các chủ sở hữu Thương hiệu có thể muốn phỏng theo sản phẩm và chiến lược của họ để lợi dụng những đặc điểm tốt nhất và tránh vấp phải cạm bẫy.

SAO CHÉP VÀ LÀM GIẢ

Những Thương hiệu có thể bị nạn hàng giả tấn công trên thị trường tương đối dễ xác định và có thể có những đặc tính sau đây:

  • thời gian sản xuất ngắn
  • tương đối dễ tái tạo: có giá trị lớn về kiểu dáng nhưng lại không cần trang bị nhiều máy móc
  • dễ phân phối
  • được người tiêu dùng đánh giá cao
  • tỉ suất lợi nhuận trên chi phí sản xuất cao có thể được quy cho giá trị được thừa nhận lớn của Thương hiệu.

Những kẻ bắt chước (copyists) và nhái lại (imitators) tìm cách thể hiện một sản phẩm giống một cách hợp pháp với chính phẩm nhưng hành vi làm giả là hoàn toàn lừa gạt người mua. Khi Thương hiệu đã hoàn toàn phát triển thì brand name tự thân nó đã trở thành một sản phẩm.

Áo pull và những nhãn hiệu của nhà thiết kế (designer brand label), như các logo chẳng hạn, thể hiện quyền sử dụng một dấu hiệu đồng nhất với Thương hiệu như một sản phẩm với tư cách riêng của nó. Những sản phẩm này chẳng có mấy giá trị nội tại và dễ sản xuất lại.

Làm hàng giả là một hình thức vi phạm và không có định nghĩa cụ thể. Luật Nhãn hiệu hàng hoá 1994, luật về Những dấu hiệu mô tả thương mại 1968 (the Trade Descriptions Act 1968) và Luật Bản quyền, Kiểu dáng và Sáng chế 1988 đều có những quy định khởi tố những kẻ làm giả. Những điều luật này được thi hành thông qua Phòng tiêu chuẩn thương mại của Nhà đương cục địa phương (Local Authorities) và thường được coi là một phương pháp tương đối ít tốn kém để quản lý hành vi buôn bán này.

Hệ thống thi hành luật của châu Âu dựa vào các cơ quan chức năng  (gồm cả cảnh sát và hải quan) có sự khác biệt giữa các nước. Châu Âu vẫn chưa có hệ thống thi hành luật hợp nhất. Phần lớn khó khăn, theo kinh nghiệm của những cơ quan chức năng này là do sự phức tạp về mặt pháp lý và khó khăn trong việc xác định hành vi nào là vi phạm ở cấp độ xét xử dân sự, còn ở cấp độ hình sự thì dế xác định hơn nhiều. Những số liệu được công bố gần đây cho thấy có tới 10% thương mại Châu Âu trong lĩnh vực bán lẻ rất có thể bị làm giả.

Các điều luật châu Âu cho phép hải quan có toàn quyền bắt giữ những hàng hoá bị nghi ngờ là hàng giả. Tuy nhiên, khi hàng hoá được di chuyển tự do giữa biên giới các nước Châu âu thì cơ hội xác định và phục bắt những hàng hoá này trở nên xa vời hơn.

 

NHÃN THƯƠNG PHẨM LÀ HÀNG HÓA

Thương hiệu không còn mang tính chất tĩnh và 3 giai đoạn khác nhau có thể được nhận biết trong sự phát triển của một Thương hiệu. Mỗi giai đoạn này có thể đòi hỏi phải có một cách phân tích riêng cũng như những phương pháp bảo hộ khác nhau.

Giai đoạn đầu tiên là tạo ra một dấu hiệu nhận biết. Quá trình này có thể diễn ra trong một thời gian với sự phát triển và tiến hoá của sản phẩm. Tên hay logo được dùng để nhận biết sản phẩm đó thường trở thành một sản phẩm chung ví dụ như giày của Church, khoai tây chiên của Smith… Tuy nhiên, cuối cùng sự chú ý lại chuyển từ sản phẩm được mua theo tên sang bản thân tên đó.

Ở giai đoạn này, nhãn hiệu tự thân nó có giá trị. Những sản phẩm mới có thể được tạo ra và sẽ thu được lợi nhuận từ danh tiếng của bản thân tên thương mại đó. Giai đoạn đầu tiên đối với sản phẩm mới không còn được chú ý. Các bên thứ ba sẽ trả tiền để có được những sản phẩm gắn với tên đó. Hình thức mở rộng Thương hiệu này, nếu được thực hiện một cách thận trọng sẽ làm tăng giá trị của sản phẩm hạt nhân, bằng cách mở rộng nhận thức và sự thâm nhập thị trường của tên thương mại ấy.

Một brand name đã hoàn toàn phát triển thường có giá trị cao hơn sản phẩm mà lúc đầu được gắn với nó. Tuy quần jeans của Levis rõ ràng có những đặc tính làm cho chúng trở nên độc đáo, hầu như bất kỳ công ty nào với những kỹ năng cần thiết cũng có thể sản xuất ra nó. Ở cấp độ phát triển này, Thương hiệu chính là hàng hóa và lợi nhuận phụ thuộc vào Thương hiệu cũng lớn như phụ thuộc vào sản phẩm. Nhà sản xuất ban đầu không nhất thiết phải tiếp tục sản xuất sản phẩm đó. Chủ sở hữu có thể cấp lixăng sản xuất cho các bên thứ ba và cho phép họ gánh chịu rủi ro về hoạt động này nếu anh ta muốn. Thông thường, đối với những Thương hiệu đã hoàn toàn phát triển ở giai đoạn thứ ba này, chủ sở hữu sẽ kết hợp cả tự sản xuất, mở rộng và cấp lixăng để tối đa hoá lợi nhuận.

Như đã trình bày trong chương này, Thương hiệu tự thân nó là rất phức tạp nên việc xây dựng, phát triển và bảo hộ cần được cân nhắc thận trọng. Các lớp bảo hộ có thể liên tục thay đổi khi Thương hiệu và luật pháp phát triển.

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *